Nghị định 341/2025/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan có hiệu lực từ ngày 15/2/2026. Một trong những nội dung đáng chú ý của nghị định là cách xác định số lợi bất hợp pháp thu được từ hành vi vi phạm để làm căn cứ xác định khung tiền phạt và thẩm quyền xử phạt.
Số lợi bất hợp pháp được tính trong thời gian nào?
Theo khoản 4 Điều 5 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, trường hợp cần xác định số lợi bất hợp pháp để làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng các quy định tại điểm b, c, d, đ và e khoản 4 Điều 60 của nghị định này.
Theo đó, số lợi bất hợp pháp được hiểu là vật, tiền, giấy tờ có giá và tài sản khác mà tổ chức, cá nhân có được từ hành vi vi phạm hành chính.
Khoản lợi này được xác định trong khoảng thời gian tính từ khi tổ chức, cá nhân bắt đầu thực hiện hành vi vi phạm đến thời điểm hành vi vi phạm chấm dứt.

Công thức tính số lợi bất hợp pháp bằng tiền
Đối với số lợi bất hợp pháp bằng tiền, mức lợi thu được được xác định là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ vi phạm, sau khi trừ những chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa, dịch vụ.
Tuy nhiên, các khoản chi phí chỉ được khấu trừ khi tổ chức, cá nhân vi phạm cung cấp được đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh tính hợp pháp và hợp lệ.
Công thức xác định có thể được hiểu như sau:
Số lợi bất hợp pháp = Số lượng hàng hóa hoặc khối lượng dịch vụ đã tiêu thụ × Đơn giá hàng hóa, dịch vụ – Chi phí trực tiếp hợp pháp, hợp lệ.
Số lượng hàng hóa hoặc khối lượng dịch vụ đã chuyển nhượng, tiêu thụ được xác định dựa trên kê khai của tổ chức, cá nhân vi phạm và kết quả kiểm tra, xác minh của người có thẩm quyền xử phạt.
Đơn giá hàng hóa, dịch vụ được xác định trên cơ sở hồ sơ, chứng từ do tổ chức, cá nhân vi phạm cung cấp. Trường hợp không có hồ sơ, chứng từ, cơ quan chức năng có thể căn cứ giá thị trường của hàng hóa, dịch vụ tương tự tại thời điểm phát hiện vi phạm.
Nếu không thể xác định được số lượng, khối lượng hoặc đơn giá, số lợi bất hợp pháp được xác định là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy hàng hóa trái quy định.
Không phải trường hợp nào cũng được trừ chi phí
Nghị định quy định một số trường hợp số lợi bất hợp pháp được xác định bằng toàn bộ số tiền thu được mà không trừ chi phí.
Cụ thể, đối với hành vi chuyển nhượng, tiêu thụ hàng cấm, hàng giả, hàng hóa nhập lậu hoặc cung cấp dịch vụ kinh doanh có điều kiện trái quy định, số lợi bất hợp pháp bằng tiền là toàn bộ số tiền tổ chức, cá nhân thu được từ việc chuyển nhượng, tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ đó.
Đối với tổ chức, cá nhân nhận gia công cho thương nhân nước ngoài nhưng thực hiện hành vi vi phạm về xuất xứ hàng hóa, số lợi bất hợp pháp được xác định bằng tiền thuê hoặc phí gia công đã thu, sau khi trừ chi phí trực tiếp nếu có đầy đủ chứng từ hợp pháp, hợp lệ.
Nếu hàng hóa gia công vi phạm đã bị chuyển nhượng, tiêu thụ, tẩu tán hoặc tiêu hủy trái pháp luật, số lợi phải nộp còn bao gồm khoản tiền tương đương giá trị tang vật vi phạm.
Xử lý số lợi bất hợp pháp là vật hoặc tài sản khác
Số lợi bất hợp pháp không chỉ được xác định bằng tiền mà còn có thể là vật hoặc tài sản khác theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp vật hoặc tài sản không phải hàng cấm, hàng giả, hàng nhập lậu đã được chuyển nhượng, tiêu thụ hoặc tiêu hủy, giá trị số lợi bất hợp pháp được xác định theo giá thị trường của tài sản cùng loại.
Nếu không có giá thị trường, cơ quan chức năng có thể căn cứ giá trị ghi trong sổ sách hoặc giá trị tiền của tài sản ghi trên tờ khai xuất khẩu, nhập khẩu. Các chi phí trực tiếp cấu thành hàng hóa chỉ được trừ khi có hồ sơ, chứng từ chứng minh hợp pháp, hợp lệ.
Trường hợp vật, tài sản là hàng cấm, hàng giả hoặc hàng nhập lậu đã được chuyển nhượng, tiêu thụ, số lợi bất hợp pháp được xác định là tổng số tiền mà tổ chức, cá nhân nhận được từ việc chuyển nhượng.
Có thể bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
Theo Điều 3 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, hình thức xử phạt chính đối với hành vi vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan là phạt tiền.
Ngoài ra, người vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh tang vật vi phạm.
Người vi phạm cũng có thể bị tước quyền sử dụng Thẻ giám định viên quyền tác giả, quyền liên quan hoặc Giấy chứng nhận tổ chức giám định trong thời gian từ một đến ba tháng.
Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan là 250 triệu đồng đối với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi, mức phạt áp dụng cho tổ chức nhìn chung gấp hai lần mức phạt đối với cá nhân.
Trưởng Công an cấp xã có thể phạt đến 125 triệu đồng
Theo Điều 55 Nghị định 341/2025/NĐ-CP, Trưởng Công an cấp xã có quyền phạt tiền đến 125 triệu đồng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan.
Ngoài phạt tiền, Trưởng Công an cấp xã còn có quyền tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và áp dụng một số biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Việc xác định chính xác số lợi bất hợp pháp vì vậy không chỉ là căn cứ để áp dụng biện pháp buộc trả hoặc nộp lại khoản lợi thu được mà còn có ý nghĩa trong việc xác định khung tiền phạt và người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt.