Theo Phụ lục II ban hành kèm Nghị định 17/2023/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 134/2026/NĐ-CP, tiền bản quyền âm nhạc đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ karaoke được tính theo số phòng hoặc số box trong một năm. Đối với phòng karaoke thông thường, mức tiền còn phụ thuộc vào diện tích từng phòng.
Công thức xác định số tiền bản quyền phải trả trong một năm là:
Tiền bản quyền = Mức lương cơ sở × Hệ số điều chỉnh
Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được áp dụng là 2,53 triệu đồng/tháng. Trên cơ sở này, mức tiền bản quyền âm nhạc đối với quán karaoke được xác định theo từng nhóm phòng.

Mức tiền đối với phòng karaoke
Tại Hà Nội và TP.HCM, từ phòng thứ nhất đến phòng thứ tư, cơ sở kinh doanh phải trả 3,795 triệu đồng/phòng/năm đối với phòng có diện tích không quá 20m².
Phòng có diện tích trên 20m² đến 30m² có mức tiền bản quyền 4,048 triệu đồng/phòng/năm. Đối với phòng rộng trên 30m², mức tiền là 4,301 triệu đồng/phòng/năm.
Từ phòng thứ năm đến phòng thứ 10, mức tiền được điều chỉnh giảm, cụ thể:
| Diện tích phòng | Tiền bản quyền mỗi phòng/năm |
|---|---|
| Đến 20m² | 3.036.000 đồng |
| Trên 20m² đến 30m² | 3.238.400 đồng |
| Trên 30m² | 3.440.800 đồng |
Từ phòng thứ 11 trở đi, mức tiền tiếp tục giảm xuống còn 2,6565 triệu đồng/phòng/năm đối với phòng không quá 20m²; 2,8336 triệu đồng đối với phòng trên 20m² đến 30m² và 3,0107 triệu đồng đối với phòng rộng trên 30m².
Karaoke box không tính theo diện tích
Đối với loại hình karaoke box, tiền bản quyền âm nhạc được xác định ở mức 2,1505 triệu đồng/box/năm và không phụ thuộc vào diện tích của box.
Tổng số tiền bản quyền âm nhạc đối với hoạt động kinh doanh karaoke phải trả trong một năm không vượt quá 20,24 triệu đồng, tương đương tám lần mức lương cơ sở.

Mức thu thay đổi theo từng loại đô thị
Các mức nêu trên là khung giá được áp dụng tại Hà Nội và TP.HCM. Đối với các địa phương khác, số tiền phải trả được điều chỉnh theo phân loại đô thị.
Cụ thể, cơ sở kinh doanh tại đô thị loại I áp dụng bằng 80% khung giá; đô thị loại II bằng 50%; đô thị loại III bằng 20%. Trường hợp cơ sở thuộc vùng sâu, vùng xa hoặc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, mức áp dụng bằng 10% khung giá.
Chẳng hạn, một phòng karaoke rộng trên 30m², thuộc nhóm từ một đến bốn phòng, tại đô thị loại I sẽ có mức tiền bản quyền bằng 80% của 4,301 triệu đồng, tương đương khoảng 3,4408 triệu đồng/phòng/năm.
Biểu mức trên được áp dụng đối với chủ sở hữu quyền tác giả và được áp dụng tương tự đối với chủ sở hữu quyền liên quan của bản ghi âm, ghi hình được sử dụng tại cơ sở karaoke.
Việc trả tiền bản quyền khi sử dụng âm nhạc trong hoạt động kinh doanh không phải là nghĩa vụ mới. Điểm thay đổi từ ngày 1/7/2026 chủ yếu nằm ở cơ chế tính cụ thể hơn và việc áp dụng mức lương cơ sở mới để xác định số tiền phải trả.